Thứ 4, 05-10-2022 - 00:32

Văn hóa nghệ thuật

TÌM HIỂU ÂM NHẠC SÂN KHẤU QUA NHẠC KỊCH OPERA VÀ MÚA BALLET

Khi xem biểu diễn Opera (nhạc kịch) hay Ballet(kịch múa), người xem có cảm giác như đang được tham gia vào những biến cố trong tác phẩm và vì vậy họ như hòa trong âm nhạc, trong sân khấu, sống với sân khấu… Sức mạnh của nhạc điệu và sự hòa nhịp của kỹ thuật âm thanh điêu luyện kết hợp với các loại hình nghệ thuật khác đã làm nên vẻ đẹp sang trọng và hấp dẫn của âm nhạc sân khấu.

Âm nhạc sân khấu bao gồm những tác phẩm viết để biểu diễn trên sân khấu như Opera, ballet… là hình thức nghệ thuật tổng hợp gồm nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau.

1. Opera bắt đầu xuất hiện và được biết đến vào khoảng những năm 1600 ở nước Ý, sau đó phát triển ở nhiều thành phố khác của Ý rồi đến Pháp, Đức, Anh…. Qua quá trình phát triển, đã có nhiều loại Opera khác nhau như Opera nghiêm túc, Opera hài hước (thế kỉ XVIII). Nhưng với sự ra đời của trường phái Opera Nga (thế kỷ XIX) thì Opera hội tụ, kết tinh tất cả những gì sang trọng nhất, sâu sắc nhất, sống động nhất, xứng đáng với sự phát triển lịch sử của nó.

Opera được hiểu là nhạc kịch, theo nghĩa văn học là “cuốn sách nhỏ”. Dựa vào cốt truyện và kịch bản đã có, nhà soạn nhạc sắp xếp các màn, các cảnh và viết lời và nhạc. Cũng có nhiều nhóm gồm tác giả văn-ca-kịch kết hợp, cộng tác với nhau để viết nên tác phẩm như nhóm Mozart cùng với Lorenzo da Ponte. Nhạc Opera truyền thống gồm có hai cách hát.Hát nói(nói có âm điệu), và hát có giai điệu (các aria, hợp ca, hợp xướng). Đây là những phương tiện thể hiện đặc trưng của Opera. Thông qua việc hát mà không cần giai điệu và sự phối hợp của khí nhạc, trong đó cảm xúc của nhân vật sẽ được bày tỏ qua những tổ hợp giai điệu trầm bổng. Xen kẽ còn có những đoạn nhạc không lời của dàn nhạc giao hưởng như khúc mở đầu của cả vở Operahoặc từng màn cũng như từng lớp múa. Hát đôi, hát ba hoặc những đoạn đồng ca cũng thường được sử dụng để diễn đạt nội dung của tác phẩm trên sân khấu.

Opera là sự kết hợp của âm nhạc (thanh nhạc và khí nhạc) với thơ ca và hành động kịch, nghệ thuật thể hiện bằng điệu bộ, nét mặt và nghệ thuật múa, hội họa, kiến trúc dưới hình thức trình bày trang trí và hiệu quả của ánh sáng dưới vai trò dẫn dắt chủ đạo của âm nhạc. Người ca sĩ trình bày tác phẩm cùng với phần nhạc đệm khi thì của một một nhóm các nhạc cụ nhỏ, khi thì của cả một dàn nhạc giao hưởng đầy đủ. Cùng với đó, Opera cũng có thể kết hợp với khiêu vũ và nhảy múa. Và cuối cùng, Opera được biểu diễn trong một nhà hát riêng biệt cùng những trang thiết bị cho biểu diễn, có tên gọi là Nhà hát Opera.

Vở Opera “Ruslan và Ludmila” của nhạc sĩ Nga Glinca là sự kết hợp tuyệt diệu của giữa âm nhạc, thơ ca và các loại hình nghệ thuật khác, thuộc loại cổ tích dân gian. Dựa trên tác phẩm trường ca cùng tên của nhà thơ Nga lỗi lạc Pushkin, Glinca đã cộng tác với một nhà thơ Nga khác để viết kịch bản cho vở nhạc kịch này từ năm 1837. Vở nhạc kịch “Ruslan và Ludmila” kể về câu chuyện xảy ra ở thành Kiep cổ xưa trong lâu đài của công tước Xvectođa. Trong đêm diễn ra lễ cưới của con gái công tước là Ludmila với hiệp sĩ Ruslan, ca sĩ Beyan đã hát và tiên đoán về đôi trai gái này sẽ phải chia ly, trải qua nhiều thăng trầm, sóng gió của cuộc đời họ mới được đoàn tụ. Quả nhiên, đêm ấy cô dâu đã bị bắt cóc. Chàng hiệp sĩ Ruslan đã bất chấp thời tiết giá lạnh vô cùng của miền Bắc nước Nga, dũng cảm vượt qua những sa mạc đầy sương mù và băng giá, lặn lội tìm người yêu dấu. Trên chặng đường gian khó đấu tranh để bảo vệ tình yêu ấy, hiệp sĩ Ruslan đã anh dũng chiến đấu với tên phù thủy hung ác, nham hiểm, quỷ quái Chernomor, cuối cùng chàng đã cứu thoát được Ludmila, họ vỡ òa trong niềm vui đoàn viên, hạnh phúc. Nếu như ở màn một mở đầu là âm nhạc mang tính khắc họa gồm bài hát của ca sĩ Bayan đệm đàn Harpe bắt chước đàn guxli dân gian diễn tả tâm trạng bối rối, hồi hộp của Ludmila trong ngày cưới, nét nhạc kỳ ảo, hoang tưởng diễn đạt rõ nét cảnh bắt cóc cô dâu và màn hợp xướng nam mang tính kiên quyết, mạnh mẽ thể hiện sự quyết tâm vượt mọi gian khó để tìm bằng được người mình yêu của chàng hiệp sĩ Ruslan thì ở màn năm sau cảnh romance với tiêu đề “Cô ta cho tôi cuộc sống, cho tôi niềm vui” là màn hợp xướng “Ôi! Cô Ludmila ánh sáng”, “Vinh quang thuộc các vị thần vĩ đại” khép lại vở nhạc kịch trên nền nhạc gần với khúc Ovecture.

2. Thế kỷ XVI, giao lưu buôn bán thương mại ở Italy sầm uất, tấp nập khiến cho kinh thành Rome trở nên tráng lệ, trở thành trung tâm thương mại và nghệ thuật của Châu Âu. Phong trào văn hóa Phục Hưng với những thành tựu chói sáng của các ngành nghệ thuật như văn học, hội họa, âm nhạc thì múa ballet ra đời ban đầu nhằm phục vụ cho các lễ cười hoàng gia và tầng lớp quý tộc. Ballet (kịch múa) là dạng múa kỹ thuật hình thể với ngôn ngữ của riêng mình, được dàn dựng bao gồm nhạc (dàn nhạc biểu diễn nhưng đôi khi có cả ca sĩ hát), lời ca và diễn xuất của dàn múa. Cũng như opera, ballet là loại hình nghệ thuật sân khấu có tính chất tổng hợp. Ngoài yếu tố chủ đạo là âm nhạc và múa còn có sự tham gia của nhiều bộ môn nghệ thuật khác như hội họa, trang trí, ánh sáng cũng như nghệ thuật diễn xuất bằng động tác và nét mặt. 

Múa ballet nổi tiếng nhất là ballet cổ điển với động tác uyển chuyển và chính xác. Sau này biến thể của ballet cổ điển có múa ballet tân cổ điển và múa ballet đương đại. Ballet cổ điển là sự xen kẽ của những điệu múa và những màn kịch câm. Các điệu múa được cấu trúc bằng hình tượng khái quát, âm nhạc của các điệu múa có tiết tấu, nhịp điệu chính xác. Những cảnh kịch câm có tính kể lể theo cốt truyện nên âm nhạc có đặc điểm tự do về tiết tấu. Trong ballet cổ điển các tiết tấu múa thường được dùng là tiết tấu của các điệu waltz, polka, galop… cùng như tiết tấu của các điệu múa cổ như minuet, gavote, saraban… Ngoài ra còn thấy các điệu múa dân tộc cũng được dùng trong các vở ballet như mazouka, bolero…

Xuất hiện ở Ý, phát triển thịnh hành ở Pháp vào thế kỷ XVII gắn với tên tuổi của nhạc sĩ J.B Lully. Sang thế kỷ XIX, sự ra đời ballet của trường phái lãng mạn đánh dấu thời kỳ phát triển rực rỡ của nghệ thuật ballet. Đặc biệt, nền nghệ thuật ballet Nga ra đời vào nửa sau thế kỷ XIX đã nhanh chóng khẳng định vị trí và tầm ảnh hưởng đến sự phát triển ballet toàn Châu Âu. Marius Petipa là người sáng tạo ra kỷ nguyên vàng cho Trường Ballet Hoàng gia Nga (nay là Kirov ballet), có vai trò lớn trong việc biến St. Petersburg trở thành kinh đô của ballet thế giới. Đoàn ballet của St. Petersburg là nơi đào tạo thành danh những diễn viên ballet nổi tiếng nhất của mọi thời trong đó nổi lên là diễn viên Anna Pavlova với lối diễn thanh thoát, uyển chuyển, mềm mại.

Năm 1677 trên sân khấu Nga xuất hiện vở ballet “Hồ Thiên Nga” của nhà soạn nhạc vĩ đại Tchaikovsky. Đây là vở ballet có tính phổ cập và nổi tiếng, được giới chuyên môn mọi thời đánh giá rất cao và chiếm trọn tình yêu bộ môn nghệ thuật múa ballet của khán giả, trở thành vở ballet kinh điển. Vở ballet “Hồ Thiên Nga” được sáng tác dựa trên câu chuyện thần thoại đầy lãng mạn ngợi ca tình yêu thủy chung của hoàng tử Siegfried đối với công chúa Odetta, người bị pháp bùa của tên phù thủy Von Rothbart biến thành thiên nga. Chính tình yêu cao đẹp, đầy tính nhân văn và lòng dũng cảm của hoàng tử Siegfried đã giải thoát Odetta, đưa nàng trở lại kiếp người và sống cuộc sống hạnh phúc bên người mình yêu.

Âm nhạc là một trong những con đường dẫn dắt người ta đi đến chân lý. Là sản phẩm tinh túy của tâm hồn nghệ sĩ, âm nhạc sân khấu với hai thể loại là opera và ballettừ khi ra đời đến nay luôn khẳng định vị trí đỉnh cao trong danh mục các bộ môn nghệ thuật, kết tinh những giá trị nhân văn tinh tế, cao đẹp. Bởi ngôn ngữ âm nhạc trong opera, balletcó tính trừu tượng cao, luôn phát huy thế mạnh trong việc gợi hình tượng nghệ thuật dội thẳng vào con tim trước khi vọng lên trí óc của người thưởng thức.

Tài liệu tham khảo: PGS, TS Nguyễn Thị Nhung - Giảng nhạc -  Nhạc viện Hà Nội-1988

Phương Linh