Thứ 4, 05-10-2022 - 00:30

Nghiên cứu trao đổi

ĐƯA NHẠC CỤ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM VÀO CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI

Kiều Trung Sơn, Viện Nghiên cứu văn hóa, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Tóm tắt: Bên cạnh các nhạc cụ truyền thống hiện đang được đào tạo, từng có một số nhạc cụ dân gian cổ truyền được đưa vào dạy chính thức trong một số trường nghệ thuật miền núi. Tuy nhiên, số đó quá ít ỏi, còn rất nhiều nhạc cụ của các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa được các trường nghệ thuật quan tâm, và đó là điều phí phạm đáng tiếc.

Việc tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số vào dạy trong trường nghệ thuật chuyên nghiệp, nếu thành công sẽ là một cơ sở điều kiện tốt, khai thác giá trị nghệ thuật âm nhạc truyền thống, đóng góp thêm cho sự phát triển một nền âm nhạc Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.

Bài viết này đề xuất tiếp tục một hướng đào tạo âm nhạc không mới nhưng nên được thực hiện ở các trường nghệ thuật, trong đó có Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội. Mục tiêu nhằm hướng tới mở rộng, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghệ sĩ-chiến sĩ cùa Nhà trường, trang bị hiểu biết sâu về âm nhạc dân tộc, yêu quí và tự hào về văn hóa dân tộc, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên mặt trân văn hóa nghệ thuật quân đội.

Từ khóa: Dạy nhạc cụ dân tộc thiểu số, Âm nhạc dân tộc truyền thống, Đào tạo nghệ sĩ chiến sĩ âm nhạc.

Tiền đề

Người Việt Nam chúng ta bao gồm 54 thành phần dân tộc, trong đó người Kinh, với phần đông dân số, được coi là chủ thể chính, còn lại 53 thành phần được gọi là các dân tộc thiểu số. Mỗi một dân tộc đều có nền âm nhạc của mình. Như thế Việt Nam có đến 53 nền âm nhạc dân tộc thiểu số. Mỗi nền âm nhạc đó đều có đủ các loại hình thức là thành phần cơ bản: 1/ Nhạc hát (còn gọi là dân ca); 2/ Nhạc đàn (còn gọi là dân nhạc) và Hệ thống nhạc khí (còn gọi là nhạc cụ). Hệ thống các nhạc khí các dân tộc thiểu số vô cùng phong phú, có đủ các họ nhạc khí, gồm: dây, hơi, thân vang, màng rung.

Tuy nhiên, hiện tại, trong các trường nghệ thuật hầu như chỉ biết đến âm nhạc của người Kinh, trong đó bao gồm các nhạc cụ dân tộc được đưa vào chương trình giảng dạy là nhạc cụ người Kinh quen dùng như bầu, sáo, nhị, tam thập lục, tranh, nguyệt. Nhạc cụ các dân tộc thiểu số, cho dù vô cùng đa dạng, hầu như vắng bóng trong các trường nghệ thuật. Một kho tàng công cụ biểu diễn âm nhạc dân tộc đang bị lãng phí bởi không được khai thác. Đó là điều đáng tiếc.

Thuận lợi

So với các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp khác, Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội có thế mạnh và điều kiện hơn cả để thực hiện ý tưởng đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số vào chương trình đào tạo.

Quân đội Nhân dân Việt Nam có hệ thống các thiết chế văn hóa nghệ thuật và cán bộ ở tất cả các vùng miền, bao gồm các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng và các đơn vị cơ sở trên toàn quốc, nơi cư trú của các dân tộc thiểu số trên toàn quốc. Hầu hết cán bộ, diễn viên các đoàn văn công; cán bộ, nhân viên nghiệp vụ văn hóa nghệ thuật; các đội văn nghệ xung kích... đều qua Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội đào tạo. Bởi thế, Nhà trường rất thuận lợi trong việc thâm nhập khảo sát các nhạc cụ và tìm nghệ nhân dân gian dân tộc thiểu số trong đời sống thực tiễn.

Đội ngũ giảng viên âm nhạc của trường được đào tạo bài bản, có bằng cấp trình độ nghiệp vụ cao, có nhiệt huyết với nghề, có nhiều sáng tạo âm nhạc đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển văn hóa nghệ thuật quân đội. Hơn nữa, không chỉ đối với quân đội, Trường còn là một trung tâm đào tạo nghệ thuật có uy tín cao của đất nước cả về công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và thực hành biểu diễn.

Với các ưu thế đó, việc khảo sát, chọn lọc, thử nghiệm đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số Việt Nam vào trương trình đào tạo là hoàn toàn khả thi đối với Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội.

Khó khăn

Thứ nhất, việc đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số vào chương trình đào tạo âm nhạc khiến hệ thống đào tạo âm nhạc cần phải có những thay đổi cho phù hợp, điều này khó tránh khỏi có những ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học nhạc cụ hiện đang trong nền nếp đã được xây dựng từ lâu.

Thứ hai, muốn đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số vào chương trình đào tạo phải có đội ngũ giảng viên am hiểu, sử dụng thành thạo ít nhất một loại nhạc cụ dân tộc thiểu số. Trong khi đó, giảng viên nhạc cụ của trường vốn quen gắn bó với một nhạc cụ là nghề mà họ đang dạy, không dễ để thay đổi, sẽ cần nhiều thời gian để thể nghiệm nghiên cứu và làm chủ được một nhạc cụ dân gian dân tộc lạ lẫm.

Thứ ba, về tư tưởng, giáo viên khó để yêu thích, tôn trọng một nhạc cụ mà dường như khả năng diễn tả âm nhạc còn khá hạn chế so với nhạc cụ quen thuộc của họ. Đứng trước các nhạc cụ đó, ngoài chút tò mò và những so sánh hơn kém thì cũng không dễ để nảy sinh được mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu, làm chủ cây đàn để nghĩ đến việc sẽ đưa nó vào dàn nhạc hay biểu diễn độc tấu trên sân khấu chuyên nghiệp.

Thứ tư, trong trường hợp giáo viên nhạc cụ có sự yêu thích nhạc cụ dân tộc thiểu số, muốn học, cần có nghệ nhân truyền dạy, việc tìm nghệ nhân, có chế độ cho nghệ nhân hay mời nghệ nhân về trường... là cả một vấn đề phức tạp.

Thứ năm, kho tàng nhạc cụ dân tộc thiểu số quá đa dạng, lựa chọn loại nhạc cụ nào phù hợp với biểu diễn chuyên nghiệp để đào tạo cũng là một vấn đề. Bởi đi theo nhạc cụ được lựa chọn là phải xây dựng cho được hệ thống bài bản phù hợp với tính năng, cấu tạo và hình dung trước cả chức năng, vị trí, vai trò, khả năng thể hiện của nó trong trường hợp có thể sử dụng trong dàn nhạc.

Như vậy, việc đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số Việt Nam vào chương trình đào tạo tại trường nghệ thuật rõ ràng là không dễ, có khá nhiều trở ngại, thách thức. Để thực hiện được việc đó, chúng tôi thấy cần một số giải pháp dưới đây.

Giải pháp

Thứ nhất, có sự thống nhất ý chí, có niềm tin và kiên định mục tiêu đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số vào chương trình đào tạo của Ban Lãnh đạo nhà trường.

Thứ hai, có lộ trình khoa học qua một đề án được nghiên cứu kỹ lưỡng, chi tiết, có tính khả thi cao. Lộ trình thực hiện đề án có thể dự tính gồm các bước: 1/Khảo sát (trao đổi, học hỏi kinh nghiệm các trường nghệ thuật từng dạy nhạc cụ dân tộc thiểu số); 2/Chọn nhạc cụ phù hợp (những nhạc cụ có thể phát triển được về diễn tấu bài bản một cách độc lập, chẳng hạn như khèn bè (Thái), ting ning (Gia rai) ...; 3/Phân công giảng viên tìm học nghệ nhân, làm chủ kỹ thuật biểu diễn nhạc cụ và viết bài tập, soạn giáo án dạy nhạc cụ đó; 4/Giảng viên báo cáo kết quả khảo sát nghiên cứu nhạc cụ dân tộc đã được phân công, thông qua Hội đồng khoa học của Trường; 5/Tiến hành dạy thí điểm; 6/Căn cứ hiệu quả đề án, Lãnh đạo quyết định có hoặc không sắp xếp giờ dạy nhạc cụ dân tộc thiểu số đã chọn vào chương trình đào tạo chính thức.

Thứ ba, có sự ủng hộ tự nguyện và nhiệt tình tham gia đề án của giảng viên âm nhạc trong trường. Giảng viên các nhạc cụ thuộc họ nhạc khí nào thì khảo sát và nghiên cứu, học nhạc cụ dân tộc thiểu số cùng họ nhạc khí đó (có thể để giảng viên tự lựa chọn).

Thứ tư, khuyến khích học viên đăng ký học nhạc cụ dân tộc thiểu số (nếu đề án thực hiện thành công) bằng cách cộng điểm chuyên ngành nhạc cụ 2.

Lợi ích và ý nghĩa

Lợi ích và ý nghĩa của việc đưa các nhạc cụ dân tộc thiểu số vào chương trình đào tạo trong Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội có thể đạt được như sau:

Thứ nhất, tạo thêm động lực cho giảng viên âm nhạc, phát huy khả năng/tài năng của họ trong công tác tự học tập, nghiên cứu nâng cao nghiệp vụ. Mặt khác, tạo điều kiện để họ có thêm tri thức nghệ thuật về một nhạc cụ dân tộc cổ truyền, tự bổ sung vốn nghề để mở rộng khă năng trong hoạt động đào tạo và biểu diễn;

Thứ hai, giáo dục ý thức, lòng tự hào dân tộc cho các học viên, chiến sĩ tương lai trên mặt trận văn hóa tư tưởng trong quân đội;

Thứ ba, trang bị thêm cho các nghệ sĩ-chiến sĩ tương lai những công cụ biểu diễn âm nhạc gần gũi với nhân dân, đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số trên địa bàn họ công tác;

Thứ tư, mở ra cho người làm công tác sáng tạo âm nhạc những ý tưởng mới, phong phú mà gần gũi với văn hóa, tư duy thẩm mỹ của các dân tộc thiểu số, có thể sẽ giúp họ đạt được nhiều thành công trên con đường sự nghiệp âm nhạc trong tương lai.

Thứ năm, góp phần hướng tới mục tiêu xây dựng, phát triển một nền âm nhạc mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc trong quân đội cũng như của quốc gia nói chung.

Mong muốn sâu xa của người viết bài này là trong tương lai, việc dạy nhạc cụ dân tộc thiểu số Việt Nam sẽ được thể nghiệm thực hiện, dần trở thành một nhu cầu và gắn với mục tiêu đào tạo trong Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội. Sau đó, nếu thành công, có thể sẽ lan rộng trong các trường nghệ thuật trên toàn quốc. Để ý tưởng trở thành hiện thực, sự đồng thuận ủng hộ của đội ngũ giảng viên âm nhạc là vô cùng quan trọng, mang tính quyết định. Chính họ là người trực tiếp thực hiện đề án; Họ phải là những người tâm huyết với mục tiêu hướng tới khai thác giá trị âm nhạc dân tộc truyền thống trong đào tạo chiến sĩ-nghệ sĩ. Bởi vì trước khi dạy một nhạc cụ, giáo viên phải làm chủ được nhạc cụ đó để có thể biểu diễn, viết/sáng tạo/lựa chọn chuyển thể bài tập, bài bản, tác phẩm, xây dựng giáo trình cho việc dạy nhạc cụ. Làm chủ một nhạc cụ vốn lạ lẫm như nhạc cụ dân gian không đơn giản, cần phải yêu thích nó, nghiên cứu nó và tập luyện với nó một cách nghiêm túc; đó là chưa kể phải có công đoạn nghiên cứu tìm cách bác học hóa nó, đưa nó lên sân khấu ca nhạc chuyên nghiệp. Vì đó mới là đích cuối cùng, để cho một nhạc cụ dân gian có thể trở thành môn học và có chỗ đứng trong các hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp. Trên thực tế, đàn bầu là một trường hợp thành công, sau hàng thập kỷ được quan tâm, từ một nhạc cụ dân gian, nó đã được nâng cấp, bác học hóa, đi biểu diễn khắp thế giới và trở thành một biểu tượng văn hóa âm nhạc Việt Nam.

Trăn trở

Ngay tại thời điểm này, một số trường Đại học thuộc khối Khoa học xã hội và nhân văn, và có cả một số trường đại học đa ngành, ngoài công lập, đã đưa môn học nhạc cụ truyền thống vào dạy cho sinh viên. Chẳng hạn, Đại học FPT (một trường tư thục, chủ yếu đào tạo Công nghệ thông tin và Quản trị doanh nghiệp) đã chính thức thành lập bộ môn Nhạc cụ truyền thống từ năm 2014, dạy các nhạc cụ tranh, nguyệt, nhị, bầu, sáo, tỳ bà... cho sinh viên, và đã đem đến những thành công không ngờ. Theo thông tin chúng tôi biết được từ một giảng viên dạy nhạc cụ truyền thống của trường FPT, năm 2018, Đại học FPT được vinh danh tại hạng mục Best Brands in Education Tertiary – Trường Đại học xuất sắc trong khối Đại học và Tổ chức Giáo dục FPT quốc tế; Năm 2019, Đại học FPT được Hội đồng Kiểm định các trường và chương trình đào tạo về kinh doanh quốc tế (Accreditation Council for Business Schools and Programs/viết tắt là ACBSP) chính thức công nhận đạt chuẩn chất lượng giáo dục ngành Quản trị kinh doanh. Những thành tích, uy tín quốc tế đó của Đại học FPT có sự đóng góp không nhỏ của môn nhạc cụ truyền thống; nhờ biết chơi nhạc cụ truyền thống, sinh viên tự tin, giao lưu nghiệp vụ kkết hợp giao lưu văn hóa với các trường Đại học khác trên thế giới.

Nếu Trường Đại học FPT có thể đưa được các nhạc cụ truyền thống vào đào tạo như một môn học chính thức cho sinh viên, thì tại sao Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội không đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số vào chương trình đào tạo nhỉ? Đây là việc hoàn toàn nên làm và làm được.

Ý tưởng của bài viết này chỉ có thể trở thành hiện thực khi có sự ủng hộ của các cấp Lãnh đạo, các Thủ trưởng có thẩm quyền trong việc quyết định định hướng sự nghiệp đào tạo văn hóa nghệ thuật nói chung, đào tạo âm nhạc nói riêng của Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội. Bên cạnh đó (cần nhấn mạnh lần nữa), là phải có sự đồng lòng ủng hộ của các giảng viên, các nhà sư phạm âm nhạc trong và ngoài quân đội. Nếu không có tất cả những sự ủng hộ đó, mong muốn đưa nhạc cụ dân tộc thiểu số Việt Nam vào chương trình đào tạo âm nhạc chỉ là viển vông.

Hy vọng bài viết này có được ý nghĩa như một gợi mở đổi mới chương trình đào tạo, hướng tới đào tạo gắn với bảo tồn phát huy giá trị âm nhạc truyền thống các dân tộc Việt Nam của Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội.

Tài liệu tham khảo

01.   Georger Condominas (2002), “Lời giới thiệu”, sách Tính đa dạng của văn hóa Việt Nam: những tiếp cận về sự bảo tồn, Trung tâm KHXH & NVQG và Ủy ban UNESCO Việt Nam xuất bản, Hà Nội, tr.13-27.

02.   Võ Thị Thúy Hà (2014), Đàn bầu: từ chợ quê đến hội nhập quốc tế, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

03.   Nguyễn Thụy Loan (1993), Lược sử Âm nhạc Việt Nam, Nhạc viện Hà Nội, Nxb Âm nhạc, Hà Nội

04.   Phạm Phúc Minh (1999), Cây đàn bầu - những âm thanh kỳ diệu, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

$1         05.   Sun Jin (2015), Nghệ thuật đàn bầu trong giai đoạn mới ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Âm nhạc học, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

$1         06.   Nguyễn Quang Nhã (2013), Đưa cồng chiêng Mường vào chương trình giáo dục âm nhạc cho bậc học Phổ thông cơ sở ở địa bàn tỉnh Hòa Bình, Luân văn Thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc, Trường Đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương.

$1         07.   Kiều Trung Sơn (2019) “Vấn đề nghiên cứu và truyền dạy Nghệ thuật Cồng chiêng Tây Nguyên”, Nhạc Việt (Thông báo khoa học, Học viện Âm nhạc Huế) Số 16, tháng 6 năm 2019, tr.31-39.

            08.   Kiều Trung Sơn (2020), “Di sản Âm nhạc dân gian Việt Nam: tính đặc thù, bối cảnh trình diễn và sự bảo tồn”, Nghiên cứu Âm nhạc  (Thông báo khoa học, Viện Âm nhạc) Số 59, tháng 1-4 năm 2020, tr18-32.

            09.   Tô Ngọc Thanh (1995) Giới thiệu nhạc cụ truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh.