Thứ 4, 05-10-2022 - 00:40

Nghiên cứu trao đổi

NGHỆ THUẬT VIẾT KỊCH CỦA NHÀ BIÊN KỊCH XUÂN ĐỨC VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG

   Thượng tá Trần Thanh Bạch          

             

Tóm tắt: Năm 1976, Đào Hồng Cẩm vào tận tuyến lửa Vĩnh Linh (Quảng Trị) để viết vở kịch “Tổ quốc”. Viết xong, đọc lại, ông không thấy “mùi Quảng Trị”. Đào Hồng Cẩm mời nhà văn Xuân Đức, người con của mảnh đất gió Lào cát trắng, viết chung. Vì thế kịch bản “Tổ quốc” được xem là tác phẩm đầu tay của Xuân Đức. Bằng giọng lưỡng văn sâu sắc (có thể hiểu là bao hàm hai hoặc nhiều ý trong một câu văn), với cách xây dựng cốt truyện, tình huống và nghệ thuật hình tượng nhân vật của riêng mình, Xuân Đức đã viết tiếp và thành công với hàng loạt tác phẩm sân khấu về đề tài chiến tranh cách mạng. Tên tuổi cố nhà văn Xuân Đức được xếp vào hàng nổi danh của các nhà văn quân đội.

Từ khóa: Nhà biên kịch Xuân Đức; Nghệ thuật viết kịch của Xuân Đức; Đặc điểm cơ bản trong nghệ thuật viết kịch của Xuân Đức

Về cấu trúc cốt truyện

          Kịch bản “Cái chết chẳng dễ dàng gì”(có 8 cảnh).

Mở đầu: Tại nhà sàn Bác Hồ, Bác Hồ nói với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về bức thư viết bằng máu của Hoàng Hữu Ngạn.Trong thư ông Ngạn kể rằng, lúc bọn Mỹ mới đổ quân vào Trung Trung bộ, đồng bào và chiến sĩ rất háo hức muốn đánh. Nhưng Huyện ủy thì lại hoang mang dao động, ra nghị quyết rút lên rừng sâu để bảo toàn lực lượng...Ông Ngạn và một số đồng chí đã phản đối nghị quyết ấy. Và ông Ngạn bị trù dập, bị coi là phần tử chống đối nghị quyết. Thế rồi, khi căn cứ Huyện đội bị bom Mỹ đánh vào, ông Ngạn đã bị thương, ngất đi và được chuyển ra một trạm thu dung ngoài miền Bắc. Không có giấy tờ, không có ai chứng nhận, bây giờ ông xin trở lại chiến trường cũng không ai cho. Ông Ngạn viết thư vào Huyện ủy cũ. Chẳng biết có đến nơi không mà không thấy ai trả lời... Coi như bị giam lỏng. Ông Ngạn tự giới thiệu, trước đây làm liên lạc cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Và Bác yêu cầu Đại tướng nhân chuyến công tác này vào Trung Trung bộ, tìm đến địa chỉ trong thư để xác minh sự thật.

Một chiếc lán nửa chìm nửa nổi ở vùng đất trong rừng sâu.Cảnh Tài, cán bộ thi đua củaHuyện đội yêu cầu bà Quế (vợ ông Ngạn) xác nhận vào bản báo cáo thành tích của Huyện lên cấp trên, nêu gương thành tích bắn tỉa của Vân – chỉ với 30 viên đạn đã diệt gọn 26 tên địch. Kiên, người yêu của Vân, con trai bà Quế không đồng ý với bản báo cáo thành tích đó. Bà Quế nghi ngờ tính xác thực của nội dung báo cáo. Bà không thể xác nhận được vì lúc đó không cùng chiến đấu với Vân. Bà chỉ khuyên Vân hãy trung thực. Quyền Bí thư Huyện ủy Trần Oanh đến, ông ta hỏi sao hôm nay là ngày ông Ngạn hy sinh mà bà Quế không thắp hương. Bà Quế cho rằng, chưa có xác thực về cái chết của ông Ngạn, nên không thể thắp hương cho một linh hồn đang sống.

          Tại một trạm trung chuyển, Kỳ, nguyên là lính của tiểu đoàn vận tải, đã phải giữ kho ở đó suốt hai năm. Kỳ đã cứu Lan khi cô bị thương và nhất định giữ Lan ở lại không cho đi đâu. Lúc đầu Kỳ nghĩ có thểBan chỉ huy đã hy sinh. Tiểu đoàn đã giải tán, không ai còn nhớ đến cái kho này... Hoặc là, tiểu đoàn đã vào quá sâu, không có điều kiện quay trở lại.Nhưng khi Cảnh Tài (tiểu đoàn phó của Kỳ) đưa ông Ngạn đến nói rằng, 10 ngày sau sẽ quay lại đón tất cả cùng đi, nhưng đã ba tháng rồi không thấy anh ta đâu. Lúc này Kỳ mới vỡ lẽ Ban chỉ huy có người đang còn sống và vẫn nhớ cái trạm này. 

Trước sự việc Đại tướng phê phán bản báo cáo thành tích cơ sở của Bí thư Huyện ủy Trần Oanh. Trần Oanh nói rằng là do Cảnh Tài tự ý viết, không có giấy tờ văn bản nào thể hiện đó là do ông ta chỉ thị. Trần Oanh cho rằng Cảnh Tài đã tự ý báo cáo láo thành tích. Cảnh Tài đưa ra bằng chứng là bức thư của ông Ngạn gửi về Huyện đội cách đây 5 tháng, mà Cảnh Tài đang nắm giữ, và khẳng định chính Trần Oanh mới là kẻ nói dối cấp trên. Bà Quế đến hỏi Trần Oanh: “Tôi có nghe nhà tôi vẫn còn sống và đang ở ngoài Bắc? Tôi lại nghe nói, hình như các anh đã có cử một người ra tìm nhà tôi?”. Bà Quế nói rằng chỉ cần bà còn sống, còn hơi thở, nhất định sẽ đưa ông Ngạn trở về với đồng chí, đồng đội. Trần Oanh gây sức ép, ngầm ra lệnh cho Cảnh Tài thủ tiêu bà Quế. Lúc này Vân thấy rõ bộ mặt độc ác của Trần Oanh. Vân gọi điện báo cho Kiên biết mẹ anh đang gặp nguy hiểm.

Lan bị ngất ngoài rừng và lại được Kỳ đưa về trạm trung chuyển. Ông Ngạn báo tin vui cho họ biết rằng mình đã gặp được cả trung đoàn hành quân. Mọi người háo hức giục nhau chuẩn bị lên đường. Ông Ngạn nhận ra Vân. Vân nói cho ông biết về Trần Oanh và những âm mưu của hắn, và rằng tính mạng của bà Quế và Kiên đang bị đe dọa.

                                  Kết thúc: Cảnh nhà sàn Bác Hồ, Đại tướng nói chuyện với thư ký của Bác:“Năm kia vào chiến trường, tôi đã tìm được địa chỉ, đã hỏi kỹ. Nhưng các đồng chí lãnh đạo ở tỉnh đã báo cáo với tôi rằng sẽ cho người đi tìm và đón anh Hoàng Hữu Ngạn. Tôi tin vào sự báo cáo ấy. Không ngờ cách đây mấy hôm, tôi lại nhận được lá đơn này…”. Kịch kết trong tiếng vọng: Nhưng đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã không kịp lên đường. Cái chết sao lại quá dễ dàng đối với một con người như đồng chí Đại tướng... Nhưng cuộc sống vẫn đi lên... cây đời vẫn tươi tốt... Cái chết có thể quật ngã những con người vĩ đại nhất nhưng những điều thiện, sự tốt lành, những ước mơ tuyệt vời của dân tộc thì không thể chết được, mãi mãi không bao giờ gục ngã...

                                  Kịch bản “Những mặt người thấp thoáng”

                                  Câu chuyện bắt đầu bằng việc con gái Phó Chủ tịch Trần Khả dắt về một cậu bạn Việt kiều Pháp, một đại gia trẻ tuổi đang có ý định đầu tư vào Việt Nam. Sắp có Đại hội toàn tỉnh, Trần Phiệt – giám đốc công ty Phương Nam cho gọi người đến lau cửa kính nhà Phó Chủ tịch Trần Khả. người anh ta thuê đến lau cửa kính lại là Thục, người yêu của Thêm – vợ Khả. 

Câu chuyện trở về quá khứ, đó là mùa hè năm 1974, thanh niên trai tráng trong làng lên đường đi bộ đội, trong đó có Thục, đang là sinh viên đại học cũng tình nguyện xin nhập ngũ. Trong buổi chia tay, Thêm đã mang trong người giọt máu của Thục. Trần Khả là con trai một người bạn của ông Hoàn (bố Thêm - một cán bộ tổ chức). Bố Trần Khả đã cứu ông Hoàn trong một trận chiến đấu, nay đã mất tích. Vì sự biến mất của bố mà hồ sơ xin đi thi đại học của Khả không được xét duyệt. Nay nhân sự việc Thêm có thai với Thục, mà không biết đến khi nào Thục mới về, Phiệt bày kế cho Khả nhận lời lấy Thêm. Phiệt còn đến nói với ông Hoàn, bố Khả thực ra là một cán bộ tình báo cao cấp. Để giữ thể diện gia đình, ông Hoàn đồng ý gả con gái cho Trần Khả.

Trần Khả vào đại học. Với sự giúp đỡ của bố vợ, anh ta dần leo lên vị trí Phó Chủ tịch tỉnh. Để đổi lại, Trần Khả giúp cho Phiệt có được những hợp đồng béo bở. Nhưng các dự án của Phiệt không được thực thi…Bởi Phiệt chẳng có vốn liếng gì. Ngay cả tiền đền bù giải phóng mặt bằng cũng chưa trả cho dân. Đã có hàng chục lá đơn của dân gửi lên tỉnh kiện Phiệt. Do đó, Khả thu hồi giấy phép, để trao dự án cho con rể tương lai. Đến nước này thì Phiệt quyết định nói cho mọi người trong gia đình Khả biết là ở trong ngôi nhà này sắp xảy ra tấn bi kịch loạn luân. Bởi chàng trai Việt kiều này chính là cháu ruột của Khả. Thêm đứng ra xác nhận mọi điều về lý lịch của chàng trai là đúng, Thêm tiến về chỗ ông Hoàn nói với bố rằng:“Nếu thật sự bố muốn nhìn thấy hạnh phúc của con cháu mình... sự thể đã đến nước này thì bố còn gì phải sợ mất mặt nữa. Bố hãy nói sự thật về cháu của bố…”. Thêm đến bên Khả, cô đề nghị Khả hãy nói cho con gái biết sự thật. Khả ôm lấy con xót xa:Con gái...con gái tôi. Con gái…Ha ha…Cái mặt con gái…cái mặt của ai đây…Thật khốn nạn thân tôi. Đâu có phải bấy lâu nay tôi không nhận ra cái mặt này…Thế mà tôi…vẫn phải...tự coi đó là là nét mặt mình”. Rồi bước đến chỉ vào mặt Phiệt: “Mày...chính mày cũng đã biết sự thật này kia mà, chính mày bày mưu cho tao kia mà? Tại sao hôm nay mày lại khuấy nỗi đau này lên? Thực ra là mày muốn gì hả cái thằng khốn nạn kia?”.

Từ những khảo sát cấu trúc cốt truyện của tác giả, ta có thể tổng kết lại như sau:

Với Xuân Đức, có thể nói ông tuân thủ chặt chẽ kết cấu của kịch cổ điển. Đối tượng phản ánh của ông không phải là những nhân vật mang tầm vóc anh hùng như các nhân vật của nhà biên kịch Đào Hồng Cẩm. Ông xây dựng các nhân vật có số phận không dễ dàng, không suôn sẻ trong từng thời k lịch sử đã qua của đất nước. Nhưng qua đó, người đọc lại thấy được những vấn đề nóng bỏng, nổi cộm, bức xúc của cuộc sống đương thời.

Về nghệ thuật xây dựng xung đột kịch

Câu chuyện “Cái chết chẳng dễ dàng gì” diễn ra vào thời điểm cam go, ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Nếu như đâu đó tồn tại những kẻ cơ hội, chạy trốn, đớn hèn thì vẫn còn đây những con người đau đáu vì cuộc chiến, nóng lòng được ra trận, nhưng lại bị “bỏ rơi”, giam hãm, thậm chí còn bị chính quyền “khai tử”. Trong cuộc chiến khốc liệt ấy, người lính không chỉ chiến đấu với quân thù, mà còn chiến đấu với cái ác, cái xấu để bảo vệ sự trong sạch, khẳng định nhân cách của người chiến sĩ.

Xung đột của câu chuyện ở dạng ngầm ẩn: Cái xấu, cái ác ở xung quanh ta, nhưng ta không dễ dàng nhìn thấy chúng. Cái xấu, cái ác - đó là thái độ lạnh lùng, dửng dưng và vô cảm. Cái ác sẵn sàng tiêu diệt bất cứ ai không làm theo ý chúng, cái hèn biến con người thành ác:“Cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa nhưng nhất định sẽ đến ngày kết thúc thắng lợi. Nhưng cuộc chiến đấu với cái ác, cái thấp hèn trong mỗi một con người thì sẽ phải còn lâu dài lắm…”(Lời Bác Hồ nói với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh). Đó là xung đột giữa những con người thẳng thắn, trung thực như ông Ngạn, bà Quế, Kiên, Kỳ… với những kẻ cơ hội, vị kỷ như Cảnh Tài, Trần Oanh, những kẻ sẵn sàng chà đạp lên cuộc sống của người khác để che giấu cái đớn hèn, vị kỷ của mình. Tuy là đề tài chiến tranh, nhưng kịch bản đã nói lên nhiều vấn đề thời sự nóng bỏng.

Tác phẩm “Những mặt người thấp thoáng” chọn thời kỳ sau giải phóng làm bối cảnh xảy ra câu chuyện kịch. “Những mặt người thấp thoáng” là xung đột của con người với hoàn cảnh, số phận con người bị hoàn cảnh chi phối. Hoàn cảnh ở đây là chính sách một thời của Đảng ta, vì sự mất tích của người bố, vì cái lịch không rõ ràng mà Trần Khả phải chịu những nỗi khổ sở đeo đẳng. Để có thể được đi học, có được địa vị trong xã hội, anh ta phải bán danh dự của mình để giữ thể diện gia đình cho một cán bộ tổ chức. Nhân vật chính Trần Khả không phải là nhân vật chính diện, với những phẩm chất anh hùng cao cả như các nhân vật của nhà biên kịch Đào Hồng Cẩm, mà anh ta lại là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh, của sự quan liêu, giáo điều. Suốt cả cuộc đời Trần Khả cố gắng phấn đấu để ngoi lên, có vị trí trong xã hội nhưng cái anh ta được là những điều giả dối; là tình yêu không có thật của người đàn bà hay cô con gái mà bao năm qua Trần Khả yêu thương chiều chuộng dẫu biết không phải là con mình. Kết kịch người đọc thấy Trần Khả tay trắng lại hoàn trắng tay. Nhưng vở kịch vẫn mở ra cho ta thấy, hình như đâu phải tại chiến tranh, chính con người với sự thờ ơ vô cảm đã làm khổ nhau, gây cho nhau biết bao đọa đày đau khổ.

Như vậy, ta thấy ở các tác phẩm mối xung đột thật phong phú, đa dạng, nhiều chiều. Đó là mối xung đột cơ bản giữa cái sống và cái chết, giữa cái xấu và cái ác, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn. Xung đột kịch lại phát triển thêm ở nhiều dạng. Đó không chỉ là sự xung đột hóa những mâu thuẫn của đời sống nữa, mà còn là sự miêu tả đời sống trong dạng đối lập, tương phản, mâu thuẫn vốn có của nó. Và ở đó sự tương phản đối lập với cuộc sống ấy là sự thắng thế của cái tốt, cái đẹp, cái anh hùng.

Về nghệ thuật xây dựng nhân vật

Nhà văn Xuân Đức đã rất thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật Trần Khả - con người có số phận bi thảm do hoàn cảnh tạo ra. Trần Khả có suy nghĩ đúng đắn. Trước sự việc Thục đang là sinh viên lại bỏ ngang để lên đường nhập ngũ, Khả cho rằng: “Sao lại thế được nhỉ?... Cháu thấy, đi bộ đội thì có hàng ngàn hàng vạn người có thể thay thế anh Thục. Nhưng để trở thành một kỹ sư xây dựng giỏi cho quê hương và cho cả đất nước mai sau đâu có nhiều người…Lại còn...chuyện…giữa anh với Thêm nữa… Bác ơi, bác là một cán bộ lãnh đạo tỉnh, cháu nghĩ chỉ cần bác mở lời thì...”. Khả có ước muốn trở thành kỹ sư xây dựng, nhưng nộp hồ sơ đi thi không được xét duyệt, chỉ vì một người là ông Hoàn – cán bộ tổ chức không đồng ý, và chỉ bởi một lí do, lịch của Khả không rõ ràng. Bố Khả trước đây là bạn của ông Hoàn, trong một lần chiến đấu đã có công cứu sống ông Hoàn, bây giờ bỗng nhiên mất tích. Thế nhưng với Khả, ông vẫn nói rằng: “Nếu hồ sơ lên đến trên tỉnh thì ông sẽ giúp được, nhưng đằng này lại ở dưới huyện, họ không chuyển lên cho”. Không được đi thi, Khả làm mọi nghề lương thiện để kiếm sống, nhưng Khả vẫn nuôi mơ ước một ngày nào đó mình có thể trở thành kỹ sư. Điều đó hoàn toàn là một nhu cầu chính đáng. Khả là một con người trọng nghĩa tình và danh dự. Khi biết Thêm có thai với Thục và có thể sẽ bị đuổi học, Khả bất ngờ, khổ sở nhưng sự hờn ghen cho Khả chút hả hê. Phiệt bày mưu cho Khả phải lấy Thêm để cứu nguy danh dự cho ông Hoàn – một cán bộ cấp cao không lẽ lại có con gái chửa hoang. Khả đã không đồng ý. Nhưng Phiệt đã điểm đúng chỗ yếu của Khả: Đó là khao khát được tiến thân bằng con đường học hành, và Khả đã khổ sở mà đồng ý. Nhân vật Khả có sự phát triển hợp nội tại của tính cách và hành động.

Nhà văn Xuân Đức đã rất tinh tế khi đưa ra chi tiết: Khả sợ những gương mặt người thấp thoáng, những gương mặt người “hình như” giống Thục. Gương mặt không bao giờ xuất hiện rõ ràng trong cuộc đời Khả, nhưng nó lại như bóng ma ám ảnh, đeo đẳng Khả, mang đi hạnh phúc của Khả. Người đàn bà mà Khả yêu là Thêm, như người vô cảm, bao nhiêu năm chung sống với Khả, cô chỉ lặng lẽ như cái bóng. Và ngay cả đứa con gái mà Khả yêu thương, chăm sóc cũng không phải là con ruột của Khả. Ở địa vị lãnh đạo cao cấp của tỉnh, Khả là con người khẳng khái, trước việc làm sai trái của Phiệt, Khả phản bác: “Không đầu tư vào trong dự án thì vay bao nhiêu tỷ ở ngân hàng làm gì? À, hiểu rồi. Là để có được cái đống Các-vi-dít dày cộp trong ví chứ gì? Nếu đúng thế thì…càng phải cho nó sụp đổ ngay. Cậu quậy phá cái xã hội này như thế là quá đủ rồi đấy. Thôi, quay về mà thu dọn cái dự án ma của anh ở hồ Khe Me đi”. Thế nhưng, sau bao năm bon chen, quá nửa đời người nhìn lại, Khả chẳng có gì. Phiệt – một kẻ đặc cơ hội lúc nào cũng quanh quẩn bên Khả, đòi hỏi và sắp đặt cơ mưu, luôn mang cái quá khứ lai lịch của Khả ra để khống chế và dọa dẫm.

Nhân vật Khả mà nhà văn Xuân Đức xây dựng là hệ quả của chính sách sai lầm một thời: Để cố ngoi lên, có được một chỗ đứng trong xã hội, Khả đã phải đánh đổi hạnh phúc riêng của cuộc đời mình. Ngòi bút của Xuân Đức hiển hiện sống động và chân thực thân phận cuộc đời của Trần Khả. Bên cạnh đó, nhà văn Xuân Đức đã miêu tả nổi bật nhân vật ông Hoàn – một cán bộ tổ chức làm việc với những nguyên tắc cứng nhắc, luôn luôn sợ liên lụy, sẵn sàng phủi đi những tình cảm nghĩa tình, chỉ vì nỗi sợ hãi mơ hồ. Vì ích kỷ, lạnh lùng và vô cảm, chỉ biết tư lợi cho bản thân mà một cán bộ tổ chức cao cấp như ông Hoàn “cả đời cứ phải lẽo đẽo đi theo Phiệt”, cái kẻ mà ông luôn cho là “lêu lổng và láo toét”. Nhân vật Phiệt là mẫu nhân vật đại diện cho lớp người cơ hội trong xã hội, các nhân vật này luôn có cái nhìn thấu suốt cái phần đen trong mỗi con người. Nhà văn Xuân Đức đã xây dựng nhân vật này như một phản biện cho những góc tối của tâm hồn con người. Ở đâu con người ta khuất tất, ích kỷ và tư lợi bản thân, ở đó có những con người như Phiệt. Các nhân vật như Trần Oanh, Cảnh Tài trong “Cái chết chẳng dễ dàng gì” lại là mẫu nhân vật ti tiện và đớn hèn. Vì đớn hèn và một chút lợi lộc cá nhân, chúng sẵn sàng bất chấp tất cả, kể cả những hành vi độc ác.

Như vậy, với một hệ thống các nhân vật ở trên, ta thấy nhà văn đã khắc họa được những hình tượng nhân vật sinh động và chân thật ở mỗi một thời kỳ lịch sử khác nhau. Với mỗi nhiệm vụ nghệ thuật khác nhau, các nhà văn lại có một mẫu hình tượng nhân vật khác. Nhân vật của tác giả Đào Hồng Cẩm là loại nhân vật anh hùng ca, mang trong mình bản chất cao đẹp, kiên cường, bất khuất, đầy nghĩa tình một thời khói lửa chiến tranh. Nhân vật của nhà văn Chu Lai mang một chút hào hoa, một chút ngang tàng và một chút… triết . Nhân vật của Xuân Đức khiến người ta phải suy ngẫm, bởi vì số phận nhân vật mà nhà văn đặt ra lại chính là những vấn đề cuộc sống đương thời đòi hỏi cần phải giải quyết, và chưa được giải quyết.

Về đặc điểm ngôn ngữ đối thoại

Xuân Đức là nhà thơ trước khi trở thành nhà viết kịch. Con mắt nhà thơ tinh tế, giàu xúc cảm cùng những năm tháng gió sương trận mạc cho ông cái nhìn sâu sắc, đa diện về thân phận con người. Đối thoại trong kịch của Xuân Đức có riêng một giọng, không lẫn vào đâu được, lột tả nhân vật rõ nét và vì thế chúng lôi cuốn, chứa nhiều ma lực ám ảnh. Dường như tư chất nhà thơ đã bổ sung cho ngôn ngữ kịch bản nét tinh tế, sâu sắc, chứa nhiều hàm ý mà đậm chất nhân văn về cõi người, thân phận con người… Giọng điệu và âm hưởng mà kịch của Xuân Đức mang lại là tiếng lòng của người đã đi qua quãng đời quá nhiều sóng gió chiến chinh.

Xuân Đức sử dụng thủ pháp của lời văn hai giọng (lời văn lưỡng hướng). Loại lời văn này một mặt hướng tới đối tượng lời nói như một lời thông thường; một mặt khác nó hướng tới lời người khác. Lời văn kết hợp chặt chẽ với hoàn cảnh của đối thoại khiến cho người đọc phải suy ngẫm, đoạn đối thoại dưới đây cho thấy tính cách ngang tàng của Kỳ mà người đọc, người xem lại thấy xót xa, chua chát.

Mỗi một nhân vật tương ứng với một giọng điệu thể hiện tính cách của nhân vật đó. Giọng điệu mang tính chất mỉa mai, châm biếm, giễu nhại ở các nhân vật cơ hội như Cảnh Tài, như Phiệt giúp cho tác phẩm kịch trở nên nhiều màu sắc, đa âm. Giọng điệu nhiều bè luôn diễn ra trong quá trình đối thoại của các nhân vật giúp cho các nhân vật tự soi chiếu vào bản thân mình (lời của ông Hoàn: “Anh phải đợi tôi chứ… Khốn nạn…Tại sao tôi cứ phải đi theo cái thằng lêu lỏng, hư hỏng này nhỉ?...). Bằng cái nhìn soi chiếu vào góc ngách sâu kín của tâm hồn con người và đời sống, nhà văn đã bóc trần những sự ích kỷ, giả dối, tham lam, bộc lộ sự xót xa, đau đớn của nhân vật. Ngôn ngữ đối thoại của tác giả Xuân Đức chắt lọc, ngôn ngữ độc thoại của nhân vật cũng góp phần soi sáng chủ đề và mở ra không gian của chuyện kịch: “Chiến tranh! Có phải tất cả mọi lỗi lầm của chúng ta đều có thể đổ vấy lên hai tiếng chiến tranh ấy không? Có phải khi đã có hai tiếng ấy thì không ai có thể tự định đoạt được số phận? Tôi không tin. Nếu như cái năm 75 ấy anh cũng trở về như những người lính khác…Em được đón anh ở con đường làng ấy, được đón nhận một con búp bê xinh đẹp như nhiều cô gái khác…Rồi sau đó, cả hai đứa mình cùng ngồi trên giảng đường đại học thì có lẽ mọi chuyện đã khác. Anh Thục…Vì sao cái năm 75 ấy anh không về mà mãi đến năm 78 anh mới trở về? Rồi vì sao anh về rồi anh lại đi...(Xót xa) Anh về rồi anh lại đi... để chúng mình phải đớn đau trong đêm chia ly lần thứ hai ấy? Lúc đó đâu còn có chiến tranh để chúng ta đổ lỗi”. Độc thoại nội tâm này góp phần khắc sâu mâu thuẫn xung đột ngầm ẩn trong ngôi nhà của Khả. Bằng việc sử dụng tài tình ngôn ngữ đối thoại, đặt ngôn ngữ đối thoại trong những hoàn cảnh kịch phù hợp, ngôn ngữ đối thoại của Xuân Đức có sức chuyên chở lớn, lời văn mang tính “ý tại ngôn ngoại”.