Thứ 4, 05-10-2022 - 02:20

Kiến thức âm nhạc phổ thông

Đàn T'rơbon - một nhạc cụ dân gian cần được nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi

Là một người chơi đàn nhị, đồng thời cũng là một cán bộ nghiên cứu và giảng dạy cây đàn này tại Khoa Nghệ thuật dân tộc và miền núi thuộc Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội, tôi vẫn luôn chú ý tìm hiểu những nhạc cụ dân tộc ít người có những điểm tương đồng với cây đàn mà mình đã gắn bó cả nghiệp đời này. Ngoài những cây đàn gáo, đàn ống tre... của bà con Kh’mer đã có trong tay, gần đây tôi còn sưu tầm được một loại đàn hết sức đơn sơ của đồng bào dân tộc Chứt ở Hà Tĩnh có khá nhiều nét tương đồng với đàn nhị và các loại đàn vĩ kéo khác. Chính Thiếu tướng, nhạc sỹ Nguyễn An Thuyên, Hiệu trưởng Trường Đại học VHNT Quân đội là người đã trực tiếp mang cây đàn này về sau một chuyến đi thăm và tặng quà Tết 2004 cho bà con dân tộc ở Hà Tĩnh.

 

Bà con dân tộc Chứt gọi đàn này là đàn T’Rơbon. Chưa biết T’Rơbon trong ngôn ngữ dân tộc có nghĩa là gì nhưng cái tên cũng gợi ra một âm hưởng gần gũi với núi rừng, cỏ cây nghe rất dân dã. Nó giống đàn nhị bởi cũng có hai dây và phải dùng vĩ kéo. Nhằm mục đích giới thiệu và mong muốn phổ biến rộng rãi, tôi xin nêu một số ý kiến qua quá trình tìm hiểu bước đầu về cây đàn T’Rơbon:

Đàn T'rơ bon khi chưa cải tiến

1. Về cấu tạo đàn và các bộ phận của đàn

Nhìn bề ngoài, thân đàn trông giống như một chiếc điếu cày gắn bó với người nông dân miền Bắc. Đó là một ống nứa dài chừng 70 cm (có thể tương ứng với một đốt rưỡi hoặc hai đốt ống nứa), đường kính chừng 5cm.

Phần đầu của ống nứa cắt bỏ hai bên, chỉ để lại hai mẫu nhỏ đối xứng nhau qua trục ống (tạm gọi là tai đàn), cao chừng 3cm, rộng khoảng 1,5 cm. Một tai đàn được đàn T’Rơbon nguyên bản gọt vát để có thể làm chỗ tỳ khi chơi hoặc để buộc dây leo. Bên tai kia dùng để buộc cố định một đầu dây đàn bằng cách cuốn nhiều vòng.

Thân đàn chính là toàn bộ chiều dài ống tính từ dưới tai đàn, cũng đồng thời là hộp cộng hưởng của đàn. Điểm độc đáo là đoạn cuối thân ống, khoảng 30 cm được bổ làm đôi theo chiều dọc thân, một phần già hơn tạm gọi là lưng đàn, phần còn lại non hơn một chút gọi là mặt đàn. Về hình thức, phần lưng cũng chính là cần đàn, còn mặt đàn chính là phím đàn. Có thể gọi đoạn thân từ chỗ bổ đôi này trở xuống là đuôi đàn.

Dây đàn làm bằng sợi tơ hoặc cước (cỡ tương đương với dây to của đàn nguyệt). Có hai dây được căng dọc theo chiều dài thân đàn về phía mặt phím. Điểm đặc biệt là tuy hai dây nhưng thực chất chỉ có một sợi, do cách căng dây đàn chia làm hai lần. Đầu tiên, một đầu sợi cước được gài vào gốc đuôi đàn kéo lên rồi được cố định bằng cách cuộn vào tai đàn theo hướng từ phải sang trái, từ trong ra ngoài. Sau đó tiếp tục căng dây thứ hai (lần hai) bằng cách kéo từ tai đàn trở xuống song song với dây thứ nhất rồi gài vào gốc đàn để cố định toàn bộ.

Vĩ kéo của đàn T’Rơbon là một cật nứa dẹt, chiều dài tương đương với thân đàn (khoảng 68 – 70 cm), bản rộng chừng 1cm.

2. Về cách lên dây đàn, âm sắc và phương thức diễn tấu

Đàn T’Rơbon lên dây quãng 5 đứng Rê – La theo giọng nữ hoặc Đồ – Sol theo giọng nam. Nếu muốn lên cao hơn thì chỉ cần cuốn thêm một vòng vào tai đàn; ngược lại khi cần xuống thấp thì lại nới ra một vòng.

Tiếng đàn nghe thô ráp, nhưng lại vang và chứa đầy vẻ hoang sơ, bí ẩn đúng như vẻ hoang sơn, dân dã của cây đàn. Và cũng không phải vì vậy mà tiếng của nó không toát lên âm điệu nồng nàn, đôn hậu rất hợp với lối sống tự nhiên, phóng khoáng của bà con dân tộc ít người.

Về phương thức diễn tấu, đàn T’Rơbon có thể thực hiện khá phong phú: chơi độc tấu, chơi được nhiều bản nhạc dân ca Bắc, Trung, Nam; có thể đệm cho người hát, vừa hát vừa đệm; có thể kéo, búng hoặc gẩy dễ dàng, tóm lại là có thể trình tấu theo nhiều kiểu cách phong phú, đa dạng. Do đàn gọn, nhẹ nên người chơi có thể cơ động với các tư thế ngồi hoặc đứng và thay đổi các tư thế một cách dễ dàng sao cho phù hợp.

Nghệ nhân có thể không dùng vĩ kéo mà gẩy hoặc búng trên một đoạn nhạc dài có tiết tấu dồn dập. Do thân đàn là ống nứa dài và hai dây căng ngay trên bề mặt nên tạo được âm vang tối đa khi gẩy, hiệu quả âm nhạc rất mỹ mãn, thậm chí người nghe còn cảm giác như có một nhạc cụ gõ đi kèm. Chính điều này đã tạo nên một ưu thế không nhỏ của đàn T’Rơbon so với đàn nhị, thậm chí cả đàn tính tẩu của người Thái vùng Tây Bắc và Đông Bắc.

3. So sánh đàn T’Rơbon và một số nhạc cụ khác trên thế giới

Căn cứ theo cấu tạo và phương thức diễn tấu, có thể xếp đàn T’Rơbon vào nhóm đàn dây có vĩ kéo (Violes). Theo số liệu nghiên cứu sơ bộ, trên thế giới có khoảng hơn 100 loại nhạc cụ được xếp vào nhóm này. Tuy nhiên, đàn T’Rơbon tương đối giống với 5 loại đàn mà chúng tôi biết sau đây:

- Đàn AP- KHER- XA rất thịnh hành ở các nước thuộc vùng Trung Á.

- Đàn ÔI – U KHI – CÔ của dân tộc Kareli (một dân tộc sinh sống ở miền Bắc nước Nga tiếp giáp với Phần Lan).

- Đàn RE – BECH phổ biến ở các nước Tây Âu trong các thế kỷ XVII – XVIII.

- Đàn SA – RANG – GHI của người Ấn Độ.

- Đàn SI – CHEC – SIN một loại đàn tương tự như AP – KHE – XA cũng của các dân tộc sống ở vùng Trung Á.

Sở dĩ có thể xếp các loại đàn nói trên vào nhóm tương tự như đàn T’Rơbon của Việt Nam là vì một số đặc điểm gần gũi giữa chúng như sau:

- Cần đàn và hộp cộng hưởng liền một khối, cầm tay trái, không có phím bấm được đánh dấu vị trí trên mặt đàn như nhiều loại đàn dây khác, độ dài tương tự nhau, cùng khoảng 70 cm.

- Vĩ kéo cầm bằng tay phải, do đó khi chơi tạo ra một dáng điệu gần giống nhau.

- Có hai dây làm bằng tơ hoặc nilon, một dây đàn giai điệu, một dây đệm bằng âm trì tục, thường dùng để đệm cho hát là chủ yếu.

- Chế tác đơn sơ, phương pháp diễn tấu đơn giản, không cầu kỳ và dễ thích ứng, thay đổi linh hoạt.

Từ sự so sánh trên đây, có thể thấy rằng đàn T’Rơbon dễ dàng “hội nhập” với các nhạc cụ cùng loại ở các dân tộc khác trên thế giới trong quá trình giao lưu văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc dân gian của các dân tộc. Nếu được nghiên cứu kỹ lưỡng, có bài bản và đầu tư thích đáng, có thể sử dụng T’Rơbon như một “sứ giả” đắc lực của âm nhạc Việt Nam thời kỳ mở cửa, hội nhập.

Điểm khác biệt của T’Rơbon với các loại nhạc cụ trên là ở chỗ dùng hộp cộng hưởng bằng ống nứa có sẵn để âm thanh vang lên một cách tự nhiên, khác với những nhạc cụ phải chế tác hộp cộng hưởng; đàn T’Rơbon không căng dây bằng trục như các đàn thông thường và vĩ kéo cũng dùng ngay thanh nứa một cách tự nhiên, không phải chế tác gì công phu.

4. Những suy nghĩ chính về hướng nghiên cứu và phổ biến rộng rãi đàn T’Rơbon

- Về vấn đề cải tiến đàn T’Rơbon:

Từ khi có cây đàn T’Rơbon trong tay, chúng tôi đã bắt đầu nghiên cứu và suy nghĩ làm thế nào để có thể giữ gìn và phổ biến cây đàn độc đáo này một cách rộng rãi. Chúng tôi nhận thấy cây đàn tuy đơn giản và có nhiều ưu điểm, độc đáo và có bản sắc riêng song cũng không tránh khỏi một số hạn chế cần có sự cải tiến để phổ biến dễ dàng hơn. Trước hết là cách căng dây quá đơn sơ và khó có thể nói là chính xác được. Nếu chỉ đơn thuần cuốn dây quanh mấu đàn một cách phỏng chừng thì thật khó để người chơi điều chỉnh khi cần thiết. Hơn nữa, do không có trục để căng dây như ở đàn nhị hay đàn gáo nên rất bất tiện mỗi khi phải căng hoặc thay dây một cách nhanh chóng và chính xác. Suy nghĩ theo hướng này nhằm cải tiến cách căng dây cho đàn, chúng tôi đã thử sử dụng trục quay như của đàn nhị lắp thêm vào đàn T’Rơbon. Kết quả là việc lên dây trở nên rất dễ dàng và tiện lợi. Thế nhưng chính vì điều cải tiến này mà cây đàn cải tiến lại không còn giữ được nét độc đáo nguyên sơ về hình dáng của đàn T’Rơbon nữa, bởi nhìn sơ qua phần đầu đàn, nó lại khá giống cây đàn nhị.

Đó thật sự là một cản trở cho việc cải tiến nhằm khắc phục những hạn chế của đàn T’Rơbon mà vẫn giữ được dáng vẻ hoang sơ của nó để nó không giống với các cây đàn khác. Cho tới nay, chúng tôi vẫn đang suy nghĩ rất nhiều vấn đề này nhưng chưa có phương án nào khả dĩ. Theo chúng tôi, chỉ cần cải tiến một điểm này thôi- tức là làm cho việc căng dây đàn trở nên thuận tiện – là đủ, không cần phải cải tiến bất cứ điểm nào khác, bởi cây đàn này vốn dĩ đã rất đơn giản, và chính sự đơn giản này mới tạo nên vẻ khác biệt mang tính độc đáo của nó.

Đàn T'rơ bon đã cải tiến

Ngoài ra, do vĩ kéo bằng cật nứa nên sau khi kéo một lúc, ma sát kém đi làm giảm hiệu quả âm thanh. Theo kể lại, bà con người Chứt đã khắc phục khó khăn này bằng cách thỉnh thoảng lại liếm lưỡi vào vĩ kéo, tạo nên một phong cách riêng khi chơi đàn T’Rơbon. Về việc này, chúng tôi đã khắc phục bằng cách dùng một miếng nhựa thông nhỏ chà xát lên mặt vĩ kéo (thanh nứa cật) nên không có khó khăn gì và không làm thay đổi cấu trúc tổng thể của đàn.

- Về việc giảng dạy đàn T’Rơbon cho sinh viên:

Khi giảng dạy về đàn nhị, tôi thường cho sinh viên làm quen cả với các loại đàn tương tự. Đối với đàn T’Rơbon, dù chưa có giáo trình, giáo án chính thức, tôi cũng đã bắt đầu giới thiệu cho các sinh viên của mình, đặc biệt là với một số em người dân tộc thiểu số, trong đó thật thú vị, có cả hai em người dân tộc Chứt nhưng chưa hề bao giờ chơi đàn T’Rơbon. Qua thực tế giảng dạy, bước đầu đã thấy các em sinh viên rất thích thú và chăm chú tập đàn T’Rơbon giống như các loại đàn khác. Sức sống của đàn T’Rơbon thật sự đã được khẳng định và rất cần được nhân lên, được phát triển một cách xứng đáng. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục quá trình nghiên cứu nhằm xây dựng và hoàn thiện một giáo trình tương đối chi tiết về đàn T’Rơbon để làm việc giảng dạy và phổ biến cây đàn này có hiệu quả cao hơn nữa.

5. Một vài kiến nghị

Đàn T’Rơbon là một loại nhạc cụ độc đáo không chỉ của dân tộc Chứt, mà còn là một vốn cổ của kho tàng nhạc cụ dân tộc phong phú, đa dạng của Việt Nam. Bởi vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu và phổ biến rộng rãi cây đàn này góp phần thích đáng vào việc gìn giữ và phát huy vốn qúy của dân tộc, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của đất nước. Nhiệm vụ này không nên chỉ coi là của riêng một số người biểu diễn, giảng dạy nhạc cụ dân tộc. Chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng, trước hết là Trường Đại học VHNT Quân đội dành sự quan tâm thực sự và thích đáng cho việc nghiên cứu, cải tiến và phổ biến rộng rãi cây đàn T’Rơbon trong chương trình giảng dạy và học tập của nhà trường, có sự đầu tư thỏa đáng nhằm đào tạo những nhạc công biểu diễn thành thạo đàn T’Rơbon. Nên chính thức đưa nội dung biểu diễn đàn T’Rơbon vào trong các chương trình liên hoan, biểu diễn thường kỳ của nhà trường. Nếu có điều kiện, nên tìm cách mở rộng việc quảng bá cây đàn này ra nước ngoài, nhất là với các nước và khu vực có những nhạc cụ tương tự, tổ chức giao lưu, giới thiệu và biểu diễn đàn T’Rơbon cùng với những nhạc cụ khác ở ngay tại trường và đề nghị Nhà nước có sự đầu tư cho việc sưu tầm, nghiên cứu và giới thiệu đàn T’Rơbon giống như đã làm với đàn Bầu và đàn K’Ní là những loại nhạc cụ độc đáo của Việt Nam.

Nhận thức rằng, mỗi sự độc đáo, dù nhỏ hay đơn sơ đều là một viên gạch xây dựng nên kho tàng phong phú, giàu bản sắc của nền nghệ thuật nước nhà nói chung và âm nhạc dân tộc nói riêng, chúng tôi mong muốn được giới thiệu đôi nét về cây đàn T’Rơbon với những người làm nghệ thuật âm nhạc, nhất là những người đang nghiên cứu, giảng dạy và biểu diễn nhạc cụ dân tộc. Rất mong các đồng nghiệp gần xa quan tâm, góp ý kiến để cùng tìm ra cách thức tốt nhất nhằm gìn giữ và phổ biến đàn T’Rơbon một cách rộng rãi.

LÊ THU GIANG