Thứ 4, 05-10-2022 - 01:53

Lịch sử thành lập và phát triển

Ngày 23 tháng 9 năm 1955, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định tổ chức các lớp tập huấn – đào tạo chuyên ngành nghệ thuật đặt nền móng cho sự hình thành, phát triển của Trường Nghệ thuật quân đội nay là Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội đã tròn nửa thế kỷ. Được chia thành các giai đoạn khác nhau.

Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1959

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Nguyên Bình, Cao Bằng, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập – ghi mốc son lịch sử thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đảm bảo cho quân đội mang bản chất cách mạng, có đời sống văn hoá tinh thần phong phú, lành mạnh, từ năm 1946, Cục Chính trị, Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy được thành lập. Trong những năm 1946-1949, hình thức hoạt động văn hoá, văn nghệ được Cục Chính trị chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong quân đội còn đơn giản, chưa thành hệ thống, quy chuẩn thống nhất; đặc biệt hoạt động văn nghệ chủ yếu là các đơn vị tự tổ chức tùy hoàn cảnh và năng lực của mình.

Ở cấp trung đoàn, thời gian này thường có một tờ báo in li-tô, hoặc in đá… một đội tuyên truyền xung phong, hoặc đội tuyên truyền vũ trang, tuyên truyền văn nghệ - đội tuyên văn.

Cấp tiểu đoàn, đại đội không có câu lạc bộ. Hoạt động văn hoá văn nghệ do Ban công tác chính trị đại đội phụ trách. Hình thức hoạt động chủ yếu trong những năm đầu kháng chiến thường là làm thơ, đọc thơ, ca dao, diễn kịch, ca hát, làm bích báo. Lực lượng tham gia là bộ đội, dân công.

Tháng 4 năm 1949, Cục Chính trị tổ chức Hội nghị văn nghệ toàn quân khu vực phía Bắc, nhằm kiểm điểm hoạt động văn hoá văn nghệ trong các cơ quan, đơn vị từ đầu kháng chiến; xây dựng chương trình hoạt động văn nghệ phục vụ bộ đội. Hội nghị chủ trương thành lập ban văn nghệ thuộc phòng Tuyên huấn – là cơ quan chỉ đạo các hoạt động văn hoá văn nghệ toàn quân. Phong trào văn hoá, văn nghệ trong quân đội phát triển mạnh đã lôi kéo một lực lượng khá đông người sáng tác văn nghệ, nghệ sĩ nhập ngũ; đây là lực lượng rất quý để hình thành các đơn vị văn nghệ có tính chuyên nghiệp của quân đội.

Năm 1951, đội kịch quân đội thuộc Cục Tuyên huấn/Tổng cục Chính trị được thành lập, do đồng chí Chính Hữu làm Đội trưởng, nghệ sĩ Thuỳ Chi làm Đội phó. Năm 1953, Đội ca múa quân đội thành lập, do nhạc sĩ Đỗ Nhuận làm đội trưởng.

Trước tình hình mới và yêu cầu mới của cách mạng, sau khi hoà bình được lập lại trên miền Bắc, Tổng cục Chính trị quyết định tập trung tất cả các đội văn công trong toàn quân lại, tổ chức thành ba đoàn văn công I, II, III.

Năm 1955, Đại hội văn công toàn quốc được triệu tập. Sau đại hội, các đoàn văn công cấp toàn quân, quân khu được thành lập. Ở cấp toàn quân có Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị, Đoàn chèo I, Đoàn chèo II Tổng cục Chính trị, Đoàn Cải lương Quân đội…

Nắm bắt yêu cầu của hoạt động văn hoá, văn nghệ và với tầm nhìn có tính chiến lược, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị đã từng bước đưa công tác đào tạo bồi dưỡng diễn viên vào nền nếp, tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nhạc sĩ sáng tác, nghệ sĩ biểu diễn, tạo điều kiện cho hoạt động văn hoá, văn nghệ toàn quân phát triển và đặt nền móng cho việc xây dựng Trường Nghệ thuật Quân đội sau này.

Ở thời điểm năm 1955, sau khi hình thành hoạt động quy mô lớn của các đoàn văn công quân đội, cộng với việc tiếp xúc với các đoàn nghệ thuật các nước bạn Xã hội chủ nghĩa sang trao đổi và giao lưu văn hoá nghệ thuật. Phòng Văn nghệ, Cục Tuyên huấn/Tổng cục Chính trị nhận thấy: Đã đến lúc phải tổ chức chuyên môn hoá cho các đoàn ca múa, các đoàn văn công quân đội để đáp ứng nhiệm vụ mới của giai đoạn cách mạng mới. Thực hiện chủ trương đã hoạch định từ trước và căn cứ đề nghị của Cục Tuyên huấn, ngày 23 tháng 9 năm 1955, thừa ủy nhiệm của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Lê Chưởng - Cục trưởng Cục Tuyên huấn quyết định tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo về nghệ thuật trong quân đội. Lớp tập huấn nhạc đầu tiên của quân đội được tổ chức; đây là cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho lịch sử hình thành, phát triển của Trường Nghệ thuật Quân đội - Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội sau này. Lớp nhạc đầu tiên gồm 20 học viên. Được mở tại số nhà 13 phố Cao Bá Quát. Được triệu tập từ các đoàn văn công của Tổng cuc Chính trị và đoàn văn công các quân khu Đông Bắc, Tây Bắc, Việt Bắc, Hữu Ngạn; các quân khu 3,4,5… các tỉnh Cao Bằng, Hải Phòng, sau khi về các địa phương biểu diễn, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong khó khăn, thiếu thốn vô kể lúc ban đầu, thầy trò đã kiên trì, miệt mài làm việc, động viên lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ. Lớp học khai giảng vào tháng 12 năm 1955. Nửa năm sau ngày khai giảng, tháng 6 năm 1956, lớp học tạm dừng. Các học viên trở về đơn vị công tác; đến tháng 12 năm 1956 được triệu tập tiếp tục dự khoá cho đến cuối năm 1958 mới kết thúc. Lớp hát: Đây là lớp Thanh nhạc chính quy đầu tiên ở nước ta do chuyên gia Lý Hoa Anh phụ trách. Lớp dạy hát được bố trí tại nhà số 51 phố Cửa Đông. Lớp Ba-Lê cổ điển châu Âu: Lớp do giảng viên Thẩm Đôn Thư phụ trách. Các học viên Múa sau này đã tham gia xây dựng kịch múa ngọn lửa Nghệ Tĩnh, đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của vở vũ kịch này. Lớp Chỉ huy Dàn nhạc: do chuyên gia Triệu Đại Nguyên phu trách về nội dung. Địa điểm học tại nhà số 17 phố Lý Nam Đế, trong khu vực Xưởng phim Quân đội. Lớp trực tiếp chỉ huy hợp xướng bốn bè, 60 người rất thành công. Lớp sáng tác: Được mở vào tháng 7 năm 1957, kết thúc vào tháng 5 năm 1958, do chuyên gia Mao Vĩnh Nhất phụ trách về nội dung. Nội dung học tập của lớp là hoà thanh, phối khí, phân tích tác phẩm và thực hành sáng tác ca khúc, nhạc không lời. Lớp học bồi dưỡng kiến thức âm nhạc, nâng cao về chuyên môn về sáng tác âm nhạc ở trình độ trung cấp, nhưng không có bằng tốt nghiệp. Lớp biên đạo múa: Do Tổng cục Chính trị, trực tiếp là Cục Tuyên huấn. Có thể nói đây là lớp Biên đạo múa chính quy đầu tiên của ngành nghệ thuật múa Việt Nam. Trong số 30 học viên thì một phần ba là các đạo diễn múa chủ chốt của các đoàn nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa. Còn lại hai phần ba của các đoàn văn công quân đội. Ngày 16 tháng 7 năm 1959, lớp Biên đạo múa chính thức khai giảng tại Thái Hà ấp. Lớp học Biên đạo múa là lớp được tổ chức chính quy đầu tiên của Trường.

Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1975.

Vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta bước vào giai đoạn vô cùng khó khăn. Đáp ứng đòi hỏi của cuộc chiến đấu chống Mỹ trên hai miền Nam - Bắc, đặc biệt là yêu cầu của chiến trường, đội ngũ văn nghệ sĩ, các đoàn văn công của quân đội tập trung phục vụ chiến trường vào tuyến lửa khu 4, vào các chiến trường miền Nam… Lúc này nhu cầu đào tạo diễn viên nghệ thuật tạm ngừng. Trường Nghệ thuật Quân đội không được giao nhiệm vụ đào tạo các lớp nghệ thuật chuyên ngành như trước. Trường bước vào giai đoạn khó khăn tạm thời, mọi hoạt động gần như chững lại. Sau những khó khăn chững lại, trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, ở giai đoạn đầu khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra khắp cả nước, phong trào văn hóa, văn nghệ phát triển mạnh mẽ; đặc biệt các đoàn kịch, ca múa của Tổng cục Chính trị phục vụ liên tục, dài ngày trên chiến trường rất hiệu quả… đặt ra yêu cầu phải đào tạo bổ sung cán bộ sáng tác, diễn viên cho các đoàn nghệ thuật, cho phong trào văn nghệ quần chúng… Thực hiện chủ trương của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, đầu năm 1967, đồng chí Hoàng Minh Thi - Cục trưởng Cục Tuyên huấn quyết định củng cố lại biên chế tổ chức, phục hồi chức năng, nhiệm vụ của trường nghệ thuật. Giai đoạn này, trường đã hình thành biên chế tổ chức khối cán bộ quản lý, điều hành công tác dạy và học; đồng thời được tăng cường thêm lực lượng giáo viên giảng dạy các chuyên ngành. Thời điểm Trường đi vào ổn định tổ chức biên chế, triển khai công tác đào tạo cũng là thời điểm chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc diễn ra ác liệt nhất. Thực hiện chủ trương của Trung ương, trường tổ chức sơ tán lên thôn Thúy Lai, huyện Thạch Thất, Hà Tây. Tại đây, trong tình hình khó khăn về mọi mặt, các lớp học vẫn tiến hành đều đặn, xây dựng một nền nếp sinh hoạt, giảng dạy, học tập trong thời chiến. Chính tại đây đã rèn luyện những lớp học viên có bản lĩnh chính trị và nghệ thuật vững vàng để phục vụ quân đội, phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Quy mô số lượng đào tạo của Trường giai đoạn này còn hạn chế. Tuy nhiên sự định hình về cơ bản và những kinh nghiệm đào tạo từ trong hoàn cảnh khó khăn… là” tài sản” quý giá, tạo tiền đề cho những bước tiếp sau.

Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985

Được sự giúp đỡ của Bộ Văn hóa, trong những năm 1976-1980, Trường đã có điều kiện gửi một số học viên và giáo viên đi học ở Liên Xô. Chuyên ngành gửi đi học phần lớn là múa. Nhiều đồng chí sau khi học xong về nước công tác đã góp thành tích rất lớn trong sự nghiệp đào tạo của Trường. Nhà trường đã tranh thủ ý kiến hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, từ đó lập văn bản trình cấp trên xin quy chế đào tạo ở bậc cao đẳng, trong đó vẫn có chương trình đào tạo bậc trung cấp. Năm 1978, Cục Văn hóa, Tổng cục Chính trị giải thể. Nhà hát Quân đội được thành lập, trường đứng trong đội hình của Nhà hát. Trường là cơ sở huấn luyện cho toàn quân, có chức năng huấn luyện, đào tạo lực lượng làm công tác văn hoá nghệ thuật cho các đơn vị. Mặc dù có những bất cập trong biên chế tổ chức, nhưng nhà trường vẫn thực hiện những nhiệm vụ cơ bản về huấn luyện đào tạo. Tuy tổ chức biên chế có hạn hẹp đi nhưng Nhà trường vẫn tồn tại theo chiều hướng phát triển đi lên, tạo nền tảng vững chắc cho bước phát triển tiếp theo. Cái khó khăn nhất của Nhà trường trong những năm 80 là tính pháp lý để tồn tại và phát triển chưa được bảo đảm. Nhà trường thiếu những văn bản có hiệu lực giúp cho mặt công tác của mình được thực hiện không có quy chế của một nhà trường nên nhiều điều bất cập đã xảy ra. Trước yêu cầu của Nhà trường, Tổng cục Chính tri đã tổ chức một cuộc tranh luận công khai, có đại diện Tổng cục Chính trị, Cục Tuyên huấn, Cục Cán bộ tham dự. Nhà trường bảo vệ sự tồn tại của mình bằng các ý kiến xuất phát từ thực tế, khách quan và trong sáng. Những năm 1980-1981 trước tình hình nhiệm vụ mới, Nhà trường có thay đổi một số vị trí lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt để tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị, cũng như năng lực chỉ đạo về chuyên môn giữ vững vị thế, chức năng, nhiệm vụ của Nhà trường. Năm 1984, Trường xây dựng một chương trình tham gia Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quốc. Chương trình của Nhà trường đã dành được nhiều giải cao, để lại tình cảm, ấn tượng tốt đẹp đối với đông đảo khán giả, các đoàn nghệ thuật trong và ngoài quân đội.

Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1995

Từ năm 1981 đến năm 1992, Chi bộ Nhà trường liên tục đạt danh hiệu Chi bộ trong sạch vững mạnh và xây dựng được sự đoàn kết nhất trí cao trong cấp ủy, Chi bộ, Ban Giám hiệu và cán bộ, giáo viên, học viên của Nhà trường. Tháng 3 năm1991, Hội đồng Nhà nước đã tặng thưởng cho Nhà trường Huân chương Lao động Hạng Ba lần thứ hai. Tháng 6 năm 1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức liên hoan “Tiếng hát học sinh-sinh viên toàn quốc lần thứ nhất” tại Huế. Đoàn Trường Trung cấp Nghệ thuật Quân đội đã dành kết quả tốt trong liên hoan. Thành tích này là một động lực, một điểm nhấn có ý nghĩa quan trọng để Nhà trường nâng cao được niềm tin trong giới nghệ thuật và đọng lại trong tình cảm yêu mến của đông đảo cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước.

Giai đoạn từ năm 1995 đến 2006

Vượt qua những năm tháng biến động, đầy khó khăn thử thách của những năm đầu thập kỷ 90, vị thế của Nhà trường một lần nữa được khẳng định và bước vào những năm vươn mình phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa nói chung và xây dựng đời sống văn hoá tinh thần của quân đội nói riêng. Ngày 8 tháng 8 năm 1995, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyết định 688/QĐ-QP hợp nhất Trường Quân nhạc Quân khu Thủ đô với Trường Trung học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội, nâng cấp Trường Trung học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội thành Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. Ngày 23 tháng 9 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 596/TTg về việc công nhận Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. Đây là mốc quan trọng đánh dấu quá trình xây dựng và phát triển của Nhà trường sau 40 năm thành lập và phấn đấu (23-9-1955 đến 23-9-1995).

Ngày 23 tháng 9 năm 1995, tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, các cán bộ, giáo viên, học viên Trường Văn hoá Nghệ thuật Quân đội đón nhận Huân chương Chiến công hạng Nhất do Đảng, Nhà nước trao tặng và đón nhận sự kiện Trường được mang tên Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. Ngày 21 và 22 tháng 10 năm 1998, Đảng bộ Nhà trường tiến hành Đại hội lần thứ III. Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Quân đội đã và đang trở thành địa chỉ tin cậy của các đoàn nghệ thuật trong và ngoài quân đội, của các đơn vị cơ sở trong quân đội. Ngày 7 và 8 tháng 10 năm 2000, Đảng bộ Nhà trường tiến hành Đại hội lần thứ IV chủ trương: Xây dựng Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Quân đội tiên tiến, chính quy, chất lượng, vươn lên tầm cao mới.

Giai đoạn từ năm 2006 đến nay

Ngày 03 tháng 01 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 02/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội trên cơ sở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Quân đội. Đây là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa lớn, đánh dấu một mốc son mới trên chặng đường xây dựng và trưởng thành của Nhà trường.

Hơn 60 năm năm xây dựng và trưởng thành của Nhà trường gắn liền với lịch sử phát triển của quân đội, của đất nước. Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội luôn xác định rõ chức năng, nhiệm vụ là nơi đào tạo, ươm trồng những tài năng về văn hóa nghệ thuật cho quân đội và xã hội; đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ mái trường này, hàng nghìn học viên đã được rèn luyện học tập để trở thành những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật. Hàng nghìn cán bộ, giảng viên, học viên đã có mặt ở các chiến trường phục vụ bộ đội và nhân dân trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Trường đã đào tạo nhiều thế hệ nhạc sĩ, nghệ sĩ, cán bộ diễn viên có tên tuổi và xây dựng được những tác phẩm văn hóa nghệ thuật đỉnh cao, được Giải thưởng Hồ Chí Minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa nghệ thuật của quân đội và của đất nước.

Quán triệt sâu sắc đường lối văn hóa văn nghệ cùa Đảng, các chỉ thị, nghị quyết về giáo dục và đào tạo, Nhà trường luôn giữ vững định hướng chính trị, năng động sáng tạo, mở rộng quy mô và hình thức đào tạo; tạo bước đột phá về số lượng, chất lượng đào tạo đưa Nhà trường phát triển toàn diện, vượt bậc, vững chắc. Vị thế, uy tín, hiệu quả xã hội của Nhà trường ngày càng cao.

Cùng với sự trưởng thành của Nhà trường, đội ngũ cán bộ lãnh đạo - chỉ huy, giảng viên, nhân viên của Nhà trường không ngừng trưởng thành về nhiều mặt: bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức chỉ huy, chuyên môn nghiệp vụ; nhiều giảng viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú. Tập thể cán bộ, giảng viên, nhân viên, học viên đã viết nên truyền thống vẻ vang:

                   “Chiến sĩ, nghệ sĩ

                    Đoàn kết, chiến đấu

                    Năng động, sáng tạo

 Lập công, Quyết thắng”

Những bước trưởng thành và thành tích đã đạt được trong hơn 60 năm qua của Nhà trường, đặc biệt là sự trưởng thành về nhiều mặt của đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên, chiến sĩ là nhân tố bảo đảm cho Nhà trường vững bước tiến vào tương lai, viết tiếp trang sử mới, giàu truyền thống vẻ vang.